THANH QUY CHÙA HUỆ VIỄN - ĐỒNG NAI

Ngày đăng: 06.03.2017 08:02

.

LỜI MỞ ĐẦU

Chùa được mang tên “Huệ Viễn” là do Trưởng lão HT.Thích Trí Tịnh (viện chủ chùa Vạn Đức) ban tặng. Hoà thượng cả đời tận tuỵ vì Phật Pháp, công đức rộng lớn trong việc phiên dịch kinh điển Đại thừa bậc nhất của Phật giáo Việt Nam, là bậc thầy mẫu mực của Tịnh tông Việt Nam. Ngài luôn lấy việc niệm Phật làm chánh hạnh bên cạnh đó còn siêng năng đọc tụng kinh điển Đại thừa, luôn khuyên nhắc hàng xuất gia và tại gia gắng giữ ba điều ăn chay, tụng kinh và niệm Phật

Ăn chay: nhằm giáo dục người tu nuôi dưỡng tâm từ bi, biết yêu thương mạng sống của muôn loài và tránh được quả khổ của việc sát sanh là thường mạng lẫn nhau, bệnh tật và chết yểu. Tâm từ bi này do trí tuệ sáng suốt mà sanh khởi. Nếu có được tâm từ bi này thì luôn tránh làm các điều ác, vâng làm các điều lành, vì không thể làm khổ người và vật, luôn mong muốn mọi loài đều được an vui.

Tụng kinh: để nhớ lời Phật dạy, ứng dụng tu. Mỗi ngày, Hoà thượng có hai thời tu tập. Mỗi thời thầm tụng thuộc lòng 5 bộ kinh (kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện, kinh Kim Cang, bài kệ phẩm Phương Tiện trong kinh Pháp Hoa, kinh Phổ Môn, kinh A-mi-đà), sau đó niệm Phật hồi hướng cầu sanh Cực lạc.

Niệm Phật: trong lúc thực hành Hoà thượng ân cần nhắc nhở "Tâm và tiếng phải hiệp khắn nhau”. Ở đây chúng ta cần hiểu rõ: mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, nghĩa là tánh biết thường hiện tiền không vắng thiếu, không sanh diệt. Mắt thấy hình sắc liền biết, tai nghe âm thanh liền biết… Nhưng do mê lầm nên khởi vọng tưởng phân biệt tốt xấu, hơn thua, phải quấy, tham, sân, si… nhận đây là tâm mình. Thế nên cả ngày lúc vui, lúc buồn, lúc thương, lúc giận. Đây là mầm nhân chính dẫn chúng sanh đi trong sanh tử luân hồi. Thế nên Phật dạy nhiều phương pháp tu hành để dứt trừ nhân sanh tử. Trong đó pháp niệm Phật dễ thực hành nhất. Lúc niệm Phật không quá nhanh không quá chậm, tâm nhận biết rõ ràng từng câu Phật hiệu. Ngang đó, tâm trụ nơi một chỗ, thì những tâm vọng tưởng lăng xăng dần dừng lặng. Nếu luôn luôn thực hành bền chí thì chánh niệm mạnh dần lên tâm an định sáng suốt, còn vọng tưởng phiền não sẽ yếu đi. Như vậy, lúc niệm Phật vọng tưởng dừng lặng đó là tu Định; nhận biết rõ ràng câu Phật hiệu đó là tu Huệ. Một pháp tu niệm Phật gồm đủ Định và Huệ, lợi ích an vui ngay trong hiện tại, không thể xem thường được.

Hoà thượng chỉ dạy thêm niệm Phật, tụng kinh hay làm các trợ hạnh như ăn chay, phóng sanh, giữ giới, bố thí, in kinh sách… tất cả đều hồi hướng nguyện sanh về thế giới Cực lạc. Bởi vì, pháp môn Niệm Phật ngoài sức tu của chính mình để dứt trừ phiền não, vọng tưởng còn có sức mạnh nơi 48 đại nguyện tiếp dẫn người niệm Phật của đức Phật A-mi-đà. Khi tu hành, phiền não nghiệp chướng còn chừng mẩy tơ thì vẫn đi trong luân hồi sanh tử, nhưng nhờ nương sức Phật tiếp dẫn nên mang nghiệp vãng sanh. Được sanh về thế giới Cực lạc thì được lợi ích vô cùng rộng lớn: Thoát ly sanh tử luân hồi, bảo đảm thành Phật, rộng độ chúng sanh.

Sự tu hành của Hoà thượng đúng với ý nghĩa “tự hành - hoá tha”, ngài luôn miên mật với công phu niệm Phật, gánh vác việc quan trọng cho Phật giáo Việt nam nhưng thường ở nơi tịnh thất chuyên tâm tu hành. Đây là tấm gương sáng cho người xuất gia và tại gia noi theo. Hoà thượng từng khẳng định: “Cả đời tôi dù có làm những việc như dịch kinh, giảng dạy cho tăng ni Phật tử, làm việc giáo hội… nhưng luôn lấy việc niệm Phật, tụng kinh làm chánh hạnh của đời mình. Dù làm việc gì cũng không vượt ngoài sự tu hành, có tu thì mới làm được việc cho Phật pháp”. Chúng tôi không thể mãi ca ngợi sự tu hành của Hoà thượng bằng lời nói. Thiết thực nhất là làm theo những gì Hoà thượng từng chỉ dạy. Hoà thượng rất chú trọng học Phật là để tu. Do vậy, chúng tôi chủ trương chùa Huệ Viễn là đạo tràng chuyên tu pháp môn niệm Phật. Thế nên, gầy dựng việc sinh hoạt tu học nề nếp ổn định, để mỗi huynh đệ tiến tu là việc cấp thiết quan trọng. Nếp sống muốn ổn định phải có thanh quy, tu hành phải có phương pháp rõ ràng, không thể mù mờ được.

Chúng tôi có tìm hiểu bản thanh quy của thiền viện Trúc Lâm do HT.Thích Thanh Từ biên soạn. Nhận thấy trong đây có những điều vô cùng quý báu, nhất định phải thực hành theo. Người xuất gia vào chùa, phải sống theo tinh thần lục hòa. Ăn, mặc, ở do chùa trang bị, khỏi phải lo lắng, nên mới có thể dồn hết thời gian vào việc học Phật và tu Phật. Gia đình hay Phật tử có cúng dường là của chung, phân phát đều trong chúng, như vậy sẽ tránh được sự giàu nghèo trong cuộc sống mỗi người tu. Có học rồi quyết chí tu, sau này mới có thể đem chánh pháp của Phật truyền bá giúp mọi người sống tỉnh thức, buông xả tham sân si, phá tan mê lầm, hết khổ được vui, đáp đền phần nào bốn ơn nặng (ơn cha mẹ, ơn tam bảo, ơn đất nước, ơn chúng sanh).

Ở đây, nghi thức đọc tụng đều dùng tiếng Việt. Vì sao? Mọi người đọc tụng hiểu được lời Phật thì mới ứng dụng tu, không hiểu thì làm sao thực hành. Đại sư Ấn Quang từng dạy: “Trước tụng kinh A-mi-đà qua một lần, chú vãng sanh ba lần, rồi đọc bài kệ “Thân Phật Mi-đà vàng rực rỡ…” đọc kệ xong, niệm “Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới, đại từ đại bi A-mi-đà Phật”. Kế tiếp niệm “Nam Mô A-mi-đà Phật” hoặc 500 câu, 1000 câu, càng nhiều càng tốt. Niệm Phật xong, tiếp niệm Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Hải Chúng mỗi thánh hiệu ba lần, rồi đọc bài văn phát nguyện hồi hướng vãng sanh. Đọc văn phát nguyện là y theo nghĩa trong văn mà phát tâm, nếu chẳng thế thì thành đọc suông, không được lợi ích chân thật. Sau bài phát nguyện, niệm Tam quy y, lễ Phật lui ra”.

Tất cả những gì chúng tôi biên tập trong đây không phải là ý của riêng mình, đều là những lời dạy của chư tổ, của các bậc Hòa thượng. Như vậy, lối đi đã rõ, chỗ đến có nơi, không còn nghi ngờ. Mỗi huynh đệ khi vào chùa đều phải tự nguyện thực hành theo để việc tu hành luôn được tăng tiến. Đây là hàng rào vững chắc bảo vệ đạo tâm của mỗi hành giả.

Chúng ta luôn khắc ghi lời sư ông Vạn Đức từng nhắc nhở:

“Mấy thầy mấy cô thông minh hiểu biết nhiều, coi chừng không bằng ông già bà lão ăn chay niệm Phật”

“Được gọi là tăng tài là phải giữ giới, siêng năng niệm Phật, tụng kinh hoặc ngồi thiền để tâm được định được huệ, mới là tăng tài chân thật đúng nghĩa”.

Chùa Huệ Viễn, 02/10/2013
Thích Pháp Đăng kính ghi

 

 

THANH QUY

Sống chung trong chùa, thầy trò tự nguyện đồng lao cộng khổ, hòa hợp và chia sẻ với nhau, sẵn lòng giúp đỡ khi gặp khó khăn vướng mắc trên đường đạo, hầu bảo đảm trọn vẹn lý tưởng giác ngộ giải thoát, niệm Phật vãng sanh thành Phật của chính mình. Quyết thực hiện kỳ được lý tưởng ấy, liên hữu triệt để tuân hành đúng nội quy của chùa.

I. TUÂN HÀNH LỤC HÒA

Để thành một đoàn thể Tăng đúng ý nghĩa, liên hữu trong chùa phải tuân hành lục hòa.  

1.  Thân hòa ở chung: Về phần thân: ăn, mặc, ngủ nghỉ và công tác, tất cả liên hữu đều hòa đồng nhau.  

2.  Khẩu hòa không tranh cãi: Về phần miệng: luận bàn nói chuyện phải dùng lời hòa nhã, không lớn tiếng cãi rầy.  

3.  Ý hòa cùng vui: Đối đãi nhau, tâm ý phải vui hòa, không cố chấp phiền hận.  

4.  Giới hòa cùng gìn giữ: Tất cả liên hữu đều giữ 10 giới làm căn bản và sống đúng nội quy.  

5.   Hiểu biết cùng giải bày: Sống chung nhau, liên hữu có những hiểu biết đều giải bày cùng nhau, đồng hiểu đồng cảm thông, không nên có thành kiến riêng tư.   

6. Lợi hòa cùng chia đều: Tất cả tài sản quyền lợi trong chùa là của chung, của những liên hữu hiện có mặt, cần phải chia đồng đều nhau, không ai có quyền nhận giữ riêng.

II. GIỚI LUẬT

A.   GIỚI CĂN BẢN Phần giới luật, liên hữu cố gắng giữ 10 giới làm căn bản.  

1.  Không sát sanh: Từ con người cho đến loài vật, liên hữu không được giết hại, xúi bảo người khác giết hại, hoặc thấy người giết hại sanh tâm vui mừng (ngoại trừ làm công tác vô tâm phạm đến sinh mạng chúng sanh).  

2.  Không trộm cắp: Tiền bạc, vật dụng, thức ăn uống … của người, nếu người không cho, liên hữu không được tự tiện lấy, nếu lấy thành trộm cắp.  

3.  Không dâm dục: Liên hữu không thực hành dâm dục, không tạo phương tiện dâm dục như thư từ qua lại với người khác phái…, và không khởi tâm nghĩ tưởng về dâm dục.  

4.  Không nói dối: Liên hữu không nói sai sự thật, không nói lời ác độc hung dữ, không nói lời gây chia rẽ thù hằn nhau, không nói lời phù phiếm vô nghĩa.  

5.  Không uống rượu: Liên hữu không uống các thứ rượu mạnh và nhẹ, không hút thuốc và các thứ có chất gây nghiện, kích thích khác.  

6.  Không dùng dầu thơm, các chất thơm xoa mình và không đeo đồ trang sức: Liên hữu không được dùng dầu thơm, các chất thơm xoa mình và không đeo đồ trang sức để làm cho thân sang đẹp.  

7.  Không nghe nhạc và tự hát múa: Những trò vui có tính chất đùa cợt loạn tâm, liên hữu đều không được tự làm, nghe, xem người khác làm.  

8.  Không nằm giường đẹp rộng lớn: Liên hữu chấp nhận một đời sống đạm bạc, nên không nằm ngồi giường ghế to lớn sang trọng.  

9.  Không giữ tiền bạc và châu báu: Liên hữu chấp nhận một đời sống không có tài sản riêng, chỉ có vật dụng cần thiết do chùa trang bị cho, nên không cần giữ tiền bạc, v.v… (trừ trường hợp đi đây kia và giữ tiền cho chúng).  

10. Không ăn phi thời: Liên hữu chấp nhận đời sống tam thường bất túc (ăn, mặc, ngủ nghỉ vừa đủ) để tinh tấn tu hành, nên phải giữ giới không ăn phi thời, trừ trường hợp lao động nặng nhọc thì châm chước.

B. QUI CHẾ PHỤ

Những qui chế phụ này giúp liên hữu dành trọn thời giờ trong việc tu hành và tránh khỏi những lỗi nhỏ hoặc vô tình hay cố ý.

1. Nhằm giúp cho công phu niệm Phật tiến triển, liên hữu hạn chế tối thiểu sự đi lại, trừ trường hợp bệnh nặng phải đi trị bệnh, hoặc thầy Bổn sư bệnh nặng hay tịch, cha mẹ bệnh nặng hay qua đời và vài trường hợp đặc biệt khác.

2. Để giữ giới thứ chín, liên hữu được thân nhân hay thí chủ ủng hộ tiền bạc, hoặc đi đâu về tiền còn dư đều phải gửi Thủ bổn giữ để phòng khi bệnh hoạn.

3. Thân nhân đến thăm, liên hữu chỉ tiếp khách tối đa 30 phút tại nhà khách. Nếu thân nhân còn ở lại, đều do Tri khách sắp đặt mọi việc.

4. Giữ gìn khẩu nghiệp, không nói chuyện tạp, chuyện chính trị và thời sự ngoài thế gian. Lúc lao động cũng phải niệm Phật.

5. Nhận một trách nhiệm gì trong chùa, liên hữu phải tận tình làm cho được vuông tròn, không được làm cầm chừng lấy có.

6. Mọi thời khóa tu công cộng, liên hữu không được vắng mặt hoặc trễ nãi, trừ khi có trách nhiệm đặc biệt hoặc bệnh.

7. Giờ Thỉnh nguyện, liên hữu không được đến trễ và xuống sớm, ngoại trừ có công tác cho chúng.

8. Khi lao động chung hoặc riêng, liên hữu sẵn sàng tương trợ nhau, khi thấy huynh đệ làm công việc nặng nhọc hơn, hoặc trễ nãi hơn, không được vô tình làm ngơ để mặc.

9. Liên hữu phải tiết kiệm tài sản của chùa bằng mọi cách, không nên phung phí, không được sử dụng điện thoại di động, máy điện tử, đánh cờ, đánh bạc, hút thuốc. Khi cần dùng internet phải có liên hữu đồng tu cận kề giám sát.

10. Liên hữu không được đi đâu quá thời hạn đã xin phép. Nếu có việc bất ngờ xảy ra, phải gửi thư hoặc điện thoại về xin phép thêm.

11. Liên hữu nếu không muốn ở chùa, xin phép ra đi tự do không cần điều kiện gì cả. Không được ở chùa mà có tâm hướng ngoại.

12. Để giữ uy tín của chùa, liên hữu ban đêm không được đi tới am cốc ni, trừ trường hợp cứu cấp hoặc duyên sự đặc biệt, xong phải đi đông người. Dù ban ngày liên hữu cũng không được đi một mình đến am cốc ni. Không mượn ni trẻ may vá quần áo và nấu nướng. Không được ở chỗ riêng vắng nói chuyện với người nữ.

13.  Nếu chư ni có nhờ mượn liên hữu làm việc gì, tất cả đều phải thông qua trực tiếp với thầy Tri sự, tùy thầy Tri sự chỉ định người làm, liên hữu không được tự ý hứa nhận.

14.  Hoa màu thu hoạch được do chùa tự tay trồng tỉa, hoặc của chung, muốn tặng biếu ai phải qua sự chỉ định của thầy Trụ trì, phó Trụ trì và Tri sự, các liên hữu không được tự ý tặng biếu.

15. Trước khi nhập chúng xuất gia phải tập sự tại chùa từ ba tháng đến một năm.

16.  Thư từ và các sáng tác, dịch thuật gởi đi hay đưa đến đều phải trình qua thầy Trụ trì xem.

17. Khi liên hữu có bệnh, những liên hữu cùng tu khác nên tận tâm chăm sóc chu đáo. Lúc mạng chung, trợ niệm đúng pháp.

C. TÓM KẾT

Phần Lục hòa và năm giới đầu trong mười giới thuộc về chánh, liên hữu phạm một trong những giới chánh tùy mức độ nặng nhẹ, nếu nặng thì tự xấu hổ xin rút lui khỏi chùa, nếu nhẹ tự xin sám hối với Ban lãnh đạo và toàn chúng trong chùa. Năm giới sau và Qui chế phụ là phần phụ, liên hữu nếu phạm thì tự thấy lỗi xin sám hối, hoặc Ban chức sự hay huynh đệ thấy nhắc cũng sẵn sàng sám hối. Song, một lỗi mà liên hữu phạm nhiều lần cũng tự xấu hổ xin rút lui khỏi chùa. Mỗi tháng tổ chức định kỳ hai khoá tu dành cho Phật tử tại gia (1. Niệm Phật 2. Tụng kinh điển Đại thừa) và pháp hội phóng sanh. Ngoài ra còn định kỳ việc từ thiện giúp người nghèo tại địa phương là 4 đợt (khám bệnh và phát thuốc, phát tập sách cho học sinh, phát quà trung thu, phát quà tết). Như vậy vừa tu vừa tuỳ duyên tuỳ sức làm lợi ích cho mọi người ngay trong hiện tại.

III. THỜI KHÓA TU TẬP

A. Hàng ngày Sáng:

03h30: Ba hồi ba tiếng chuông thức.

03h45: Hô Đại hồng chung.

04h00: Tụng chú Đại Bi – niệm Phật.

06h00: Ba tiếng chuông dùng sáng.

06h30: Lao động.

08h30: Nghe giảng – đọc sách.

10h00: Tụng kinh Di Giáo – niệm Phật.

11h00: Dùng cơm trưa.

12h00: Nghỉ trưa

Chiều:

13h30: Một hồi ba tiếng chuông thức.

15h00: Tụng kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện – niệm Phật.

16h45: Dùng cơm chiều.

Tối:

18h30: Hô Đại hồng chung.

19h00: Tụng kinh A-mi-đà -- niệm Phật.

21h00: Niệm Phật.

21h30: Nghỉ tối.  

B. KHÓA TU MỘT NGÀY

Sáng:

08h00: Tập trung.

08h30: Tụng 48 đại nguyện – niệm Phật.

09h45: Thuyết pháp.

11h00: Dùng cơm trưa.

12h00: Nghỉ trưa.

Chiều:

13h30: Một hồi ba tiếng chuông thức.

14h00: Tụng kinh A-mi-đà – niệm Phật.

16h00: Hoàn mãn.

IV. CHƯƠNG TRÌNH TU HỌC

A. Phật pháp căn bản

1. Tỳ-ni, Sa di, Oai nghi, Cảnh sách.

2. Kinh Di Giáo- HT.Thích Thanh Từ

3. Kinh Tứ Thập Nhị chương – HT..Thích Thanh Từ

4. Kinh Thập Thiện giảng giải – HT.Thanh Từ.

5. Kinh Pháp Cú- HT.Thanh Từ.

6. Bước Đầu Học Phật – HT.Thanh Từ.

7. Gương Sáng Người Xuất Gia – Đại sư Liên Trì.

8. Làm Chủ Vận Mệnh – Viên Liễu Phàm.

B. Pháp môn Tịnh độ

Kinh:

1. Kinh A-mi-đà Sớ Sao – Đại sư Liên Trì.

2. Kinh A-mi-đà Yếu Giải – Đại sư Ngẫu Ích.

3. Kinh A-mi-đà Chú Thích – Huỳnh Trí Hải.

4. Kinh Quán Vô Lượng Thọ Sớ Giải – HT.Thiền Tâm.

5. Kinh Vô Lượng Thọ Chú Thích – Hoàng Niệm Tổ.

6. Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện- HT.Trí Tịnh

7. Kinh Phát Khởi Bồ-tát Thù Thắng Chí Nhạo – Pháp sư Tịnh Không giảng.

8. Kinh A Nan Hỏi Phật – Pháp sư Tịnh Không giảng.

Luận:

1. Niệm Phật Thập Yếu – HT.Thiền Tâm.

2. Lá Thơ Tịnh Độ - HT.Thiền Tâm.

3. Tịnh Độ Thập Nghi Luận – Đại sư Trí Giả.

4. Thiền Tịnh Quyết Nghi – HT.Trí Tịnh.

5. Hương Quê Cực Lạc – HT.Thiền Tâm.

6. Quy Nguyên Trực Chỉ - Đại sư Tông Bổn.

7. Tịnh Từ Yếu Ngữ - Thiền sư Nguyên Hiền

8. Văn Khuyên Phát Tâm Bồ-đề – Đại sư Tĩnh Am.

9. Kệ Công Phu Niệm Phật – HT.Trí Tịnh.

10. Hương Sen Vạn Đức – HT.Trí Tịnh.

Sử:

1. Đường Về Cực Lạc – HT.Trí Tịnh.

2. Mấy Điệu Sen Thanh – HT.Thiền Tâm.

V. KẾT LUẬN Nội quy này là nhu cầu thiết yếu để bảo vệ sự an ổn tu hành của các liên hữu. Nội quy giúp cho liên hữu sống hài hòa trong nề nếp đạo đức, khiến sự tu học dễ phát triển. Vì thế, mỗi tháng vào lúc 14h00 ngày 15 và 30 đều phải đọc lại nội quy và giới luật, giúp liên hữu ghi nhớ và tự kiểm điểm xem mình có phạm điều nào không. Vì tha thiết tu hành mong các liên hữu ghi nhớ, giữ gìn được trọn vẹn!

MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM

  1. Nghĩ đến thân chẳng cầu không bệnh, thân không bệnh thì tham dục dễ sanh.
  2. Ở đời chẳng mong không nạn, không nạn thì kiêu sa ắt khởi.
  3. Tham cứu tâm chẳng cầu không chướng, tâm không chướng thì việc học không có thứ lớp.
  4. Lập hạnh chẳng mong không ma, không ma thì thệ nguyện chẳng vững.
  5. Sắp đặt việc chẳng cầu dễ thành, việc dễ thành thì chí còn khinh mạn.
  6. Tình nghĩa qua lại chẳng mong lợi mình, lợi mình thì kém tổn đạo nghĩa.
  7. Đối tiếp người chẳng cầu nuông chìu, được nuông chìu thì tâm sanh kiêu căng.
  8. Thi ân bố đức chẳng mong đền đáp, mong đền đáp là ý còn mưu toan.
  9. Thấy lợi, chẳng cầu mình được, được lợi thì tâm si dễ động.
  10. Bị hàm oan, chẳng cầu minh oan, minh oan thì oán hận càng sanh.
Thế nên thánh nhân lập bày giáo hóa:
  • Lấy bệnh khổ, làm thuốc hay 
  • Lấy hoạn nạn, làm tiêu dao.
  • Lấy chướng ngại, làm giải thoát
  • Lấy chúng ma, làm bạn pháp
  • Lấy khó khăn, làm thành công
  • Lấy kẻ giao hữu tệ bạc, làm sự giúp ích
  • Lấy người nghịch, làm vườn đẹp
  • Lấy bố đức, làm dép rách
  • Lấy lợi sơ sài, làm giàu sang
  • Lấy oan ức, làm cửa hạnh.
Như thế ở chỗ ngại biến thành thông, mong được thông trở thành ngại. Vì thế, Như-lai ở trong chướng ngại được đạo Bồ-đề. Đến như bọn ông Ương-quật-ma-la và Đề-bà-đạt-đa đều đến làm hại, mà đức Phật vẫn thọ ký cho họ về sau vẫn thành Phật. Đâu chẳng phải họ là nghịch mà ta vẫn thuận, kia là hoại mà ta lại thành. Song đời nay, người thế tục học đạo, nếu trước không ở chỗ ngại, khi chướng ngại đến khó bề dẹp nỗi, khiến của báu Pháp vương do đó mà mất. Đâu chẳng tiếc ư! Đâu chẳng tiếc ư!

 

TÁM ĐIỀU CỐT YẾU CỦA NGƯỜI TU NIỆM PHẬT

Đại sư Triệt Ngộ dạy người tu Tịnh nghiệp nên ghi nhớ:
  1. Vì sự sanh tử, phát lòng Bồ-đề, đây là đường lối chung của người học đạo.
  2. Dùng tín nguyện sâu, trì danh hiệu Phật, đây là chánh tông của môn Tịnh độ.
  3. Lấy sự nhiếp tâm chuyên chú mà niệm, làm phương tiện dụng công.
  4. Lấy sự chiết phục phiền não hiện hành làm việc thiết yếu tu tâm.
  5. Lấy sự giữ chắc bốn trọng giới làm căn bản vào đạo.
  6. Dùng các thứ khổ hạnh làm trợ duyên tu hành.
  7. Lấy nhất tâm bất loạn làm chỗ quy túc của môn Tịnh độ.
  8. Lấy các điềm lành làm chứng nghiệm cho sự vãng sanh.
  TẢI THANH QUY CHÙA HUỆ VIỄN - ĐỒNG NAI  

.: BBT Website :.

  •  *

  •  *

  •  *

  • Nội Dung

     *

  • LÀM LẠI
  • TIN LIÊN QUAN

    ^